BinaryVN chia sẻ thêm các khái niệm cần thiết và cơ bản cho tất cả trader mới cần biết để trở thành trader chuyên nghiệp!

Tiền tệ, các cặp tiền tệ

Đồng tiền quốc gia là đơn vị tiền tệ quốc gia của một đất nước hoặc một nhóm nước; ví dụ như đồng Euro ở Tây Âu, đồng đô-la ở Mỹ, đồng Yên ở Nhật Bản và tương tự.

Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền cho thấy một đồng tiền này được định giá bao nhiêu theo một đồng tiền khác. Thuật ngữ cặp tiền tệ được sử dụng phổ biến trên thị trường Ngoại hối. Có hai loại tỷ giá hối đoái là tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn.

Tỷ giá giao ngay (SPOT) là tỷ giá hiện hành được đưa ra tại thời điểm giao dịch, việc thanh toán sẽ được thực hiện trong thời hạn từ một đến hai ngày kể từ ngày giao dịch. Ngày thanh toán thường được coi là ngày giá trị.

Ngày giá trị có thể là:

• Trong cùng ngày giao dịch, nghĩa là Ngày hôm nay (Tod);
• Vào ngày tiếp theo ngày giao dịch, nghĩa là Ngày mai (Tom);
• Vào ngày thứ hai kể từ ngày giao dịch, nghĩa là Spot.
Thông thường các giao dịch trên thị trường Ngoại hối được tiến hành ở mức giá giao ngay. Tất cả các giao dịch với ngày giá trị trong vòng hai ngày làm việc đều được coi là các hoạt động chuyển đổi tiền mặt.

Tỷ giá kỳ hạn (FORWARD) cho thấy giá trị của một đồng tiền trong một khoảng thời gian tương lai. Kỳ hạn tiêu chuẩn là 1, 3, 6 và 12 tháng.

 

Tỷ giá hối đoái kỳ hạn được tính bằng:

Khối lượng giao dịch có vai trò rất quan trọng trên thị trường Ngoại hối. Khối lượng giao dịch của một đồng tiền càng lớn thì càng khó để một hoặc một nhóm nhà kinh doanh thao túng tỷ giá của đồng tiền đó. Ngay cả đối với những đồng tiền được giao dịch nhiều nhất (đồng Euro và đô-la Mỹ) thì việc thao túng tỷ giácũng là điều gần như không thể, ngoại trừ trường hợp có sự can thiệp của các ngân hàng trung ương. Đây là một trong những lý do khiến hầu hết các nhà kinh doanh lựa chọn giao dịch bằng nhiều đồng tiền khác nhau. Lý do thứ hai là khối lượng giao dịch của một đồng tiền càng lớn thì các kiểu phân tích khác nhau sẽ càng hiệu quả khi được áp dụng. Đồng Euro và đô-la Mỹ chiếm tới 70% tổng khối lượng giao dịch trên thị trường Ngoại hối, tiếp theo là đồng Yên Nhật (11%), đồng bảng Anh (8%), đồng phrăng Thụy Sỹ (5%) và 6% còn lại là của các đồng tiền khác.

 
Giao dịch ký quỹ

Giao dịch Ngoại hối của cánhân đã trở nên rất phổ biến trong vòng 10 năm trở lại đây. Sự phát triển của các dịch vụ tài chính và giao dịch ký quỹ đã đóng góp không nhỏ vào việc làm cho các giao dịch Ngoại hối trở nên phổ biến như vậy. Các yếu tố này giúp cho bất cứ ai muốn tham gia giao dịch trên thị trường Ngoại hối đều có thể thực hiện điều mình muốn chỉ với một số tiền nhất định được bảo đảm trong tài khoản. Trên thực tế, nếu một cá nhân muốn giao dịch trên thị trường Ngoại hối, người đó phải có 100.000 đơn vị của một loại tiền tệ nhất định trong tài khoản. Đối với phần đông các nhà kinh doanh cánhân thì đây là một số tiền quá lớn. Tuy nhiên, nhờ có việc sử dụng đòn bẩy mà các nhà môi giới cung cấp, các nhà kinh doanh có thể tiến hành các giao dịch bằng nhiều loại tiền tệ khác nhau khi số tiền trong tài khoản của họ thấp hơn con số nói trên rất nhiều. Vậy đòn bẩy là gì và nó được cung cấp ra sao? Thông thường, một nhà môi giới cung cấp đòn bẩy cho khách hàng của mình để họ – những nhà kinh doanh cá nhân có thể gia nhập thị trường Ngoại hối. Nếu một nhà môi giới cung cấp đòn bẩy tỉ lệ 1:100 (hay 1%) thì nó có nghĩa là nhà kinh doanh có thể thực hiện các hợp đồng với số tiền nhỏ hơn đến 100 lần so với số tiền cần để giao dịch trên thực tế. Ví dụ, nếu một nhà kinh doanh mở một trạng thái sử dụng 1.000 đô-la trong tài khoản của mình thì giao dịch của người đó có thể có giá trị tới 100.000 đô-la.

PIP

PIP là một khái niệm cơ bản khác trong giao dịch Ngoại hối. Nó là viết tắt của cụm từ Điểm phần trăm (Percentage In Point PIP) và là đơn vị dao động nhỏ nhất của tỷ giá. Ví dụ, nếu tỷ giá của đồng đô-la Mỹ so với đồng phrăng Thụy Sỹ USD/CHF đang là 1,2212 và sau đó tăng lên 1,2213, điều đó có nghĩa là tỷ giá hối đoái đã tăng một Điểm phần trăm, hay 0,0001. Kết quả của một giao dịch, nghĩa là lợi nhuận hoặc thua lỗ, được xác định bằng số Điểm phần trăm dao động từ khi bạn mở trạng thái giao dịch của mình. Bên cạnh đó, một yếu tố khác cũng quyết định kết quả giao dịch của bạn, đó là số tiền mà bạn dùng để thực hiện giao dịch đó.

Xu hướng

Xu hướng là hướng đi tiếp theo của thị trường. Có ba loại xu hướng: đi lên, đi xuống và đi ngang. Xu hướng cuối cùng xuất hiện khi dao động giálà không đáng kể và có chiều hướng cân bằng trong một khoảng hẹp.

Giá cả sẽ tăng khi thị trường có xu hướng đi lên và giảm khi thị trường có xu hướng đi xuống. Đôi khi, thay vì sử dụng các thuật ngữ này, người ta sẽ dùng từ “thị trường giá lên” (Bullish) với xu hướng đi lên hoặc “thị trường giá xuống” (Bearish) với xu hướng đi xuống. Trên thực tế, các nhà kinh doanh chuyên nghiệp thường sử dụng các thuật ngữ này hơn.
Chúng cũng có nguồn gốc lịch sử. Vào khoảng đầu thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, người ta tổ chức các trận đấu bò với gấu như một hình thức giải trí. Họ nhận ra thói quen và những dấu hiệu đặc trưng của hai loài vật này khi bắt đầu tấn công đối thủ. Bò thường tấn công khi cúi thấp đầu và chĩa sừng về phía trước nhằm hất tung đối thủ, nghĩa là chuyển động theo chiều từ dưới lên trên (thị trường giá lên có thuật ngữ gốc tiếng Anh là “bullish” – nghĩa là theo kiểu của bò). Còn gấu thì lại tấn công từ trên cao xuống để hạ gục đối thủ,

nghĩa là chuyển động theo chiều từ trên cao xuống dưới (thị trường giá xuống có thuật ngữ gốc tiếng Anh là “bearish” – nghĩa là theo kiểu của gấu).

Xu hướng giálên được dùng để mô tả thị trường với mức giá diễn biến theo chiều hướng đi lên còn xu hướng giá xuống được dùng để mô tả thị trường với mức giá diễn biến theo chiều hướng đi xuống. Ngày nay, những thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi. Về cơ bản, những thành phần tham gia thị trường được chia thành hai nhóm dựa trên kỳ vọng và xu hướng của những giao dịch mà họ tiến hành:

• Nhóm đầu cơ giá lên (Bulls) – là những người kỳ vọng mức giá sẽ đi lên và đây là lý do để họ mua vào.

• Nhóm đầu cơ giá xuống (Bears) – là những người kỳ vọng mức giá sẽ đi xuống và đây là lý do để họ bán ra.

Khoảng chênh lệch
Khoảng chênh lệch là mức chênh giữa mức giá mà nhà tạo lập thị trường sẵn sàng trả để mua một loại tiền tệ và mức giá mà anh ta sẵn sàng chấp nhận bán loại tiền tệ đó trong một khoảng thời gian nhất định. Đây cũng chính là mức chênh giữa giá mua và giá bán của một đồng tiền. Ví dụ, nếu giá mua vào của cặp USD/CHF là 1,2212 và giábán ra tương ứng là 1,2215 vào lúc 10 giờ 30 phút sáng thì khoảng chênh lệch ở đây là ba Điểm phần trăm. Cần xem xét kỹ khoảng chênh lệch khi bạn phát triển một chiến lược giao dịch bởi những đồng tiền khác nhau có những khoảng chênh lệch khác nhau.

Trạng thái bán và trạng thái mua

Bây giờ chúng ta sẽ nói đến các thuật ngữ về trạng thái bán và trạng thái mua. Trạng thái bán được dùng để mô tả việc bán một công cụ tài chính, có thể không phải là tài sản của bất cứ ai. Trạng thái mua được dùng để mô tả việc mua một công cụ tài chính. Một câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào chúng ta có thể bán một thứ không phải là tài sản của bất cứ ai? Trên thực tế, cơ chế của việc này như sau: một nhà kinh doanh vay mượn một lượng nhất định một loại công cụ tài chính nào đó từ nhà môi giới, sau đó bán nó đi, sử dụng công cụ đòn bẩy mà chính nhà môi giới đó cung cấp. Sau khi mức giáđi xuống, nhà kinh doanh sẽ mua

lại công cụ tài chính đó, rồi trả lại cho nhà môi giới số tiền đã vay mượn và lấy phần lợi nhuận của mình. Để làm cho mọi việc dễ hình dung hơn, chúng tôi sẽ cho các bạn thấy một ví dụ khi nhà kinh doanh tiến hành giao dịch mà không sử dụng đòn bẩy và không có khoảng chênh lệch. Ví dụ, một nhà kinh doanh quyết định mở một trạng thái bán Vàng. Giá vàng hiện tại là 680 đô-la Mỹ/ounce. Nhà kinh doanh muốn bán một ounce vàng và yêu cầu nhà môi giới của mình cho vay một ounce vàng sau khi đã đảm bảo bằng một số tiền nhất định. Sau đó nhà kinh doanh bán đi ounce vàng đó với giá680 đô-la Mỹ. Nhà kinh doanh đang nợ nhà môi giới một ounce vàng. Chúng ta hãy giả định là giá vàng giảm 20 đô-la trong một khoảng thời gian nhất định, và mức giá hiện tại là 660 đô-la Mỹ. Nếu nhà kinh doanh muốn hiện thực hóa lợi nhuận của mình, anh ta sẽ mua một ounce vàng với giá660 đô-la và

trả lại cho nhà môi giới, đồng thời giữ lại 20 đô-la lợi nhuận cho mình. Nhà môi giới sẽ chuyển trả số tiền bảo đảm vào tài khoản của nhà kinh doanh. Và tất nhiên, một nhà kinh doanh có thể mở nhiều trạng thái với nhiều công cụ tài chính khác nhau, như các cặp tiền tệ trên thị trường Ngoại hối, các hợp đồng chênh lệch (Contracts for Difference – CFDs), các hợp đồng Tương lai, v.v…

Tỷ giá

Thuật ngữ tỷ giá trực tiếp, tỷ giá gián tiếp, tỷ giáchéo thường xuyên được sử dụng trong giao dịch Ngoại hối.

Yết giá trực tiếp là việc một đơn vị của đồng tiền nước ngoài được niêm yết theo một lượng nhất định đồng tiền nội địa. Ví dụ, cặp EUR/BGN là một dạng yết giá trực tiếp. Trên thị trường Ngoại hối, yết giá trực tiếp có nghĩa là một đồng tiền nước ngoài được niêm yết theo đồng đô-la Mỹ. Ví dụ, EUR/USD, CHF/USD, JPY/USD là các tỷ giá trực tiếp.Yết giá gián tiếp là việc đồng đô-la Mỹ được niêm yết theo một lượng nhất định một ngoại tệ khác, ví dụ như USD/EUR, USD/CHF.

Tỷ giá chéo là việc một đơn vị của đồng tiền nước ngoài được niêm yết theo một lượng nhất định đồng ngoại tệ khác. Ví dụ như EUR/CHF, GBP/JPY, EUR/JPY.

Link mở tài khoản giao dịch: http://bit.ly/binaryvndotcom
Link Group hỗ trợ : https://www.facebook.com/groups/binaryVNcom/
Link fanpage: https://www.facebook.com/1822805761146293
★☆★ SUBSCRIBE KÊNH: BinaryVNdotcom- Kiếm Tiền Mỗi Ngày

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here